Phụ tùng ô tô, Gioăng bơm nước động cơ chất lượng cao
Gioăng
Gioăng là một loại vòng đệm cơ khí lấp đầy khoảng trống giữa hai hoặc nhiều bề mặt tiếp xúc, thường được sử dụng để ngăn rò rỉ từ hoặc vào các vật thể được nối với nhau khi chịu lực nén.
Gioăng cho phép tạo ra các bề mặt tiếp xúc "không hoàn hảo" trên các bộ phận máy móc bằng cách lấp đầy những chỗ không đều. Gioăng thường được sản xuất bằng cách cắt từ vật liệu dạng tấm.
Gioăng xoắn ốc
Gioăng xoắn ốc
Gioăng quấn xoắn ốc bao gồm hỗn hợp kim loại và vật liệu độn.[4] Nói chung, gioăng có kim loại (thường là thép giàu cacbon hoặc thép không gỉ) được quấn ra ngoài theo hình xoắn ốc tròn (các hình dạng khác cũng có thể)
Với vật liệu phụ (thường là than chì dẻo) được quấn theo cùng một cách nhưng bắt đầu từ phía đối diện. Điều này tạo ra các lớp vật liệu phụ và kim loại xen kẽ nhau.
Gioăng hai lớp
Gioăng hai lớp là một sự kết hợp khác giữa vật liệu độn và vật liệu kim loại. Trong ứng dụng này, một ống có hai đầu hình chữ "C" được làm bằng kim loại, với một mảnh bổ sung được chế tạo để vừa khít bên trong chữ "C", làm cho ống dày nhất ở các điểm tiếp xúc. Vật liệu độn được bơm vào giữa vỏ và mảnh bổ sung.
Khi sử dụng, gioăng nén có lượng kim loại lớn hơn ở hai đầu tiếp xúc (do tương tác giữa vỏ và chi tiết) và hai vị trí này chịu trách nhiệm làm kín quá trình.
Vì chỉ cần một lớp vỏ và một miếng đệm, nên các miếng đệm này có thể được làm từ hầu hết mọi vật liệu có thể được cán thành tấm, sau đó có thể chèn thêm chất độn vào.
Kịch bản ứng dụng
Trong động cơ ô tô, gioăng bơm nước được bố trí tại điểm nối quan trọng giữa vỏ bơm nước và khối động cơ. Trong quá trình hoạt động, các gioăng này làm kín mạch chất làm mát áp suất cao – chịu được các chu kỳ nhiệt từ khi khởi động nguội (ví dụ: -20°F/-29°C) đến nhiệt độ hoạt động tối đa vượt quá 250°F (121°C). Ví dụ, trong một xe kéo đang leo dốc dưới tải trọng, gioăng phải duy trì độ kín khít trước áp suất chất làm mát trên 50 psi đồng thời chống lại sự xuống cấp do chất phụ gia ethylene glycol và rung động. Hỏng hóc sẽ làm ảnh hưởng đến khả năng làm kín của hệ thống làm mát, dẫn đến mất chất làm mát, quá nhiệt nhanh chóng và có thể gây kẹt động cơ – điều này trực tiếp chứng minh dữ liệu trong ngành cho thấy sự cố hệ thống làm mát chiếm đến 30% các sự cố hỏng hóc động cơ.








